# II. Các hoạt động và khái niệm: ## 1. Bài số 1: Các khái niệm căn bản trong đầu tư - **Equity (tỷ lệ sở hữu):** Là tỷ lệ sở hữu theo % của từng cá nhân trong 1 công ty. Nếu A góp 200 triệu, B góp 300 triệu và C góp 500 triệu. A sở hữu 20% equity, B sở hữu 30% equity và C sở hữu 50% equity Nên tách bạch về tài chính và vận hành. Tài chính là ai góp bao nhiêu tiền thì sẽ sở hữu tỷ lệ tương ứng của công ty. Vận hành là ai đóng góp cho công ty thì sẽ được trả lương. Nếu công ty không đủ quỹ lương để trả thì sẽ trả bằng equity thông qua ESOP - **Bond (trái phiếu):** Nếu công ty cần tiền để phát triền, nhà đầu tư có thể cho công ty vay với mức lãi suất và ngày trả tiền được thoả thuận giữa 2 bên thông qua hình thức trái phiếu. - **Shareholder (cổ đông):** Cổ đông: nếu có nhà đầu tư D góp vốn 1 tỷ đồng vào công ty. Theo tỷ lệ của tổng vốn được góp, A còn 10%, B còn 15%, C còn 25% và D sở hữu 50%. Vì việc này không hợp lý nên nhà đầu tư D sẽ góp vốn theo định giá công ty mới. - **Định giá công ty:** Giả dụ định giá công ty là 5 tỷ và nhà đầu tư D góp khi góp vốn sở hữu 20% công ty. Như vậy A, B và C sẽ phải giảm tổng sở hữu là 20% để nhà đầu tư D góp vốn. Ví dụ như A còn 16%, B còn 24%, C còn 40% và D có 20%. Định giá công ty sẽ là 5 tỷ VNĐ. A, B, C chịu giảm equity vì gía trị mà họ sở hữu tăng. - **Stock - Share (cổ phiếu - cổ phần):** Dựa trên định giá công ty, công ty có thể được chia ra thành nhiều phần, có thể lên đến hàng triệu hoặc hàng trăm triệu phần. Mỗi phần này được gọi là 1 share (1 cổ phần) Nếu công ty này là công ty đại chúng, một phần này sẽ được gọi là 1 cổ phiếu (stock) Khác biệt giữa share và stock: -> Share thường được dùng theo tỉ lệ % sở hữu. Stock thường được dùng kèm với số lượng -> Stock được dùng cho các công ty đại chúng, share được dùng cho nhiều trường hợp hơn -> Stock: cổ phiếu. Share: cổ phần - **Stock Split:** Gỉả sử khi công ty tiếp tục phát triển, định giá tăng và giá 1 cổ phiếu tăng cao, khiến đại chúng khó tiếp cận hơn (ví dụ 1 cổ phiếu có giá 1 triệu). Lúc này 1 cổ phiếu sẽ được chi ra thành nhiều cổ phiếu hơn để công chúng dễ tiếp cận. Ví dụ khi chia ra 10, 1 cổ phiếu sẽ có giá 100k thay vì 1 triệu và những người sở hữu cổ phiếu trước đó sẽ được x10 lượng cổ phiếu đang nắm giữ. Việc chia cổ phiếu này gọi là stock split - **Dividend (cổ tức)** Khi đầu tư vào công ty và sở hữu cổ phần, cổ đông sẽ nhận được 1 phần lợi nhuận của công ty theo tỷ lệ sở hữu. Ví dụ như một công ty có thể chi 10% lợi nhuận cho cổ đông còn 90% còn lại mang vào việc tái đầu tư cho công ty. Việc chia cổ tức này tuỳ thuộc từng công ty. Có những công ty không có lợi nhuận hoặc dùng 100% lợi nhuận để tái đầu tư thì cổ đông sẽ không được nhận cổ tức. Ở VN yêu cầu chỉ những công ty có lợi nhuận mới được lên sàn chứng khoán. Ở nhiều nước khác không có yêu cầu này. - **Market Capitalization (vốn hoá thị trường):** Market Capitalization = Current market price per share x Total number of outstanding share Outstanding Share: là tổng lượng share đã được phát hành Market capitalization = định giá công ty với những công ty public - **Dilution (pha loãng cổ phiếu):** Xem lại định nghĩa góp vốn cổ đông shareholder. Khi có 1 cổ đông góp vốn vào và tỷ lệ equity của các cổ đông khác bị giảm xuống. Việc này gọi là Dilute (pha loãng cổ phiếu) - **Pre-money Valuation (Định gía trước tiền)** Giá trị của công ty trước khi được nhà đầu tư cấp vốn. Giá trị này là định giá công ty trước khi nhà đầu cấp vốn và việc cấp vốn để sở hữu equity sẽ dựa vào giá trị Pre-money. Tương tự post-money valuation là giá trị công ty sau khi cấp vốn = pre-money valuation + investment Ví dụ: Pre-money = 6 tỷ Đầu tư invest 2 tỷ Post money = 8 tỷ. Nhà đầu tư chiếm equity = 2/8 = 25% - **EPS (Earning Per Share):** Là lợi nhuận của 1 share, được dùng để đánh giá tính lợi nhuận của 1 công ty và so sánh với công ty khác trong ngành EPS = (lợi nhuận ròng - Dividend) / tổng số cổ phiếu đang lưu hành Đơn vị của EPS là tiền tệ: USD, vnđ, etc. ví dụ 1 công ty có tổng số share là 100,000 share, lợi nhuận là $1,000,000 và họ quyết định lấy $200,000 để trả cổ tức EPS = ($1,000,000 - $ 200,000) / 100,000 = 8$ Chỉ số EPS càng cao => công ty đang hoạt động có hiệu quả - **Chỉ số P/E (Price to Earning):** Đây là chỉ số dùng để đánh giá giá trị của 1 cổ phiếu P/E = Giá trị thị trường của stock / EPS P/E ratio cung cấp cho nhà đầu tư một cách so sánh giá trị của các công ty trong cùng ngành hoặc giữa các thị trường khác nhau. P/E cao đồng nghĩa với thị trường đánh giá cổ phiếu có tiềm năng tăng trưởng cao P/E thấp đồng nghĩa với thị trường đánh giá cổ phiếu có tiềm năng tăng trưởng thấp Tiếp tục ví dụ ở EPS. EPS = 8$ và giá 1 cổ phiếu là 80$ P/E = 80$ / 8$ = 10 P/E là tỉ lệ mà đầu tư sẵn sàng trả so với tỉ suất lợi nhuận của công ty (EPS). Trong ví dụ trên, nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cho cổ phiếu gấp 10 lần tỷ suất lợi nhuận của công ty. Nghĩa là định giá công ty gấp 10 lần tỷ suất lợi nhuận. ## 2. Bài số 2: Các khái niệm căn bản về thị trường chứng khoán - **Stock Market (thị trường chứng khoán):** Có 2 nhóm trong thị trường chứng khoán: Nhóm sẵn sàng nguồn tiền và có nhu cầu đầu tư Nhóm các công ty cần vốn để mở rộng kinh doanh Thị trường chứng khoán là một cái chợ để trao đổi cổ phần của các công ty. Lý do thị trường chứng khoán tồn tại xuất phát từ nhu cầu của 2 nhóm trên. - **IPO (Initial Public Offering):** Quy trình để niêm yết các công ty Private thành các công ty Public để được phát hành cổ phiếu ở trên thị trường chứng khoán. Không phải công ty nào cũng được niêm yết trên sàn chứng khoán. Để bảo vệ cho các nhà đầu tư, việc IPO sẽ được giám sát bởi một tổ chức trung ương mà được chính phủ chỉ định: - **Ở Việt Nam**: Uỷ ban chứng khoán nhà nước (SSC - State Security Commision of Vietnam). Cơ quan này trực thuộc bộ tài chính - **Ở Mỹ**: SEC (The U.S Securities and Exchange Commission) Với IPO thì các tổ chức này sẽ đặt ra những yêu cầu nhất định cho các công ty - **Quy trình IPO (niêm yết chứng khoán):** Các công ty Private khi quyết định IPO thường sẽ phát hành thêm cổ phần. Việc này cũng giống như việc gọi thêm vốn cho công ty. Lúc này tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư cũ bị giảm đi nhưng giá trị cao hơn. Giá trị cao hơn bao nhiêu thì tuỳ thuộc vào giá bán của cổ phần mới được phát hành. (xem khái niệm "Định giá công ty" và "Dilute" ở trên để hiểu rõ hơn) Các công ty private sẽ hợp tác với các ngân hàng đầu tư (Investment Bank) để thực hiện quá trình IPO. Các ngân hàng đầu tư này giúp cho các công ty bán cổ phần vừa mới phát hành ra với giá cao nhất có thể. Họ sẽ có mối quan hệ với những quỹ đầu tư và các nhà đầu tư lớn trên thị trường chứng khoán. Từ đó họ sẽ chào mời cổ phần mới phát hành của công ty. Sau khi IPO xong, các nhà đầu tư mua cổ phần từ đợt IPO sẽ bán ra thị trường cổ phần họ mua và các nhà đầu tư nhỏ lẻ có thể mua lại nếu muốn. Không nên mua cổ phiếu vừa mới được phát hành. Sau đây là những lý do: * Trước khi IPO, công ty sẽ làm nhiều hoạt động IPO để quảng bá cho công ty. Việc này tạo nên nhu cầu lớn hơn so với nhu cầu thực tế, dẫn tới giá trị cổ phiếu sẽ bị giảm * Các công ty có quyền hoãn IPO hoặc huỷ IPO nếu họ thấy giá cổ phiếu không được như mong đợi của họ. Công ty sẽ biết rõ giá trị của cổ phiếu của công ty mình. Vì 2 lý do trên nên nhà đầu tư chỉ có thể mua được đúng giá hoặc giá cao hơn so với giá thực của cổ phiếu khi cổ phiếu vừa mới được IPO Các công ty có thể phát hành thêm cổ phiếu để gọi thêm vốn. Việc này cũng giống với việc in tiền, dẫn đến lạm phát. Xem khái niệm "Stock Split" Các cổ đông cũ sau IPO cũng có thể bán đi cổ phần của mình Xem "Lecture 4: Stocks" ở đường link dưới đây https://docs.google.com/document/d/1iWNhuxnBWv4SmmpYMvrgj5-dafaFnaq3aO99WDPlhM4/edit?usp=sharing - **Sàn giao dịch chứng khoán:** Thị trường chứng khoán và sàn giao dịch chứng khoán là 2 thứ khác nhau. Thị trường chứng khoán là 1 khái niệm chung. Còn sàn giao dịch chứng khoán là khái niệm cụ thể Có 2 sàn giao dịch chứng khoán chính ở VN: - HOSE (Ho Chi Minh Stock Exchange): Sở giao dịch chứng khoán HCM - HNX (Ha Noi Stock Exchange): Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Có thể hiểu các sàn giao dịch chứng khoán là các ngôi chợ. Nơi mà các công ty niêm yết chứng khoán của họ - **Các điều kiện để công ty có thể IPO ở Việt Nam:** - Là công ty cổ phần, đã được thành lập và hoạt động ít nhất 03 năm. - Có vốn điều lệ đã thực góp tối thiểu là 30 tỷ đồng. - Có kết quả kinh doanh 03 năm gần nhất (tính đến năm đăng ký IPO) phải có lãi, trừ trường hợp phát hành cổ phiếu để hoán đổi, mua lại cổ phiếu theo quy định của pháp luật. - Có hệ thống quản trị công ty, kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập và công bố thông tin theo quy định của pháp luật. ## 3. Bài số 3: Các hoạt động giao dịch trên sàn chứng khoán Hoạt động mua bán nên sử dụng app và mua bán thực tế thì sẽ dễ hiểu hơn Phần này sẽ tìm hiểu về cách broker hoạt động - **Broker (môi giới):** Để mua được chứng khoán ở trên sàn chứng khoán thì người mua phải thực hiện qua một công ty môi giới (Broker). Nhà đầu tư phải tạo tài khoản trên những công ty môi giới này (hiện tại mình đang dùng VND - VNDirect) Khi muốn mua bán cổ phiếu thì đặt lệnh cho những công ty này để mua bán. 1 lệnh mua bán bao gồm: mã cổ phiếu, số lượng cổ phần, giá cổ phần và lệnh mua hay lệnh bán. Ngày xưa thì sẽ có đại diện của công ty môi giới ở sàn chứng khoán để nhận lệnh và đặt mua hay bán. Hiện nay thì các lệnh được đặt qua app Mỗi công ty sẽ có mức phí môi giới riêng. - **Cách Broker khớp lệnh:** Broker sẽ khớp lệnh mua và lệnh bán có gía bằng nhau để thuận mua vừa bán. Trung bình giá các lệnh khớp này sẽ được lấy để tính giá trị thị trường của cổ phiếu. Đây là cách mà cổ phiếu tăng giảm theo nhu cầu của thị trường. Có thể hiểu, sau khi IPO, giá trị cổ phiếu cũng như giá trị công ty hoàn toàn dựa vào thị trường mà không do một cách định giá nào khác. Vì vậy những người có kiến thức có thể kiếm tiền khi định giá được cổ phiếu và đọc được tâm lý thị trường. Với người có hiểu biết, thị trường chứng khoán là nơi đổi kiến thức lấy tiền. Với người không có hiểu biết, thị trường chứng khoán là nơi đổi tiền lấy sự may rủi ## 4. Bài số 4: Các cách phân nhóm cổ phiếu Có rất nhiều các cổ phiếu trên sàn niêm yết. Ở VN, tổng cộng có 700+ mã cổ phiếu khác nhau. Ở Mỹ có 4500+ mã cổ phiếu khác nhau. Vì vậy việc phân nhóm là cần thiết để đánh giá thị trường, ngành, và cổ phiếu. ### a. Phân nhóm theo ngành kinh doanh Mỗi ngành kinh doanh sẽ có những đặc thù riêng và có những chỉ số để đánh giá khác nhau. Lý do phân chia nhóm ngành: - Phân chia cổ phiếu theo những nhóm dễ tìm kiếm - Có được bức tranh chung cho từng ngành Đây là hệ thống phân chia cổ phiếu theo nhóm ngành kinh doanh mà chúng ta sẽ tìm hiểu. Hệ thống này đều phân chia cổ phiếu thành 4 lớp, đi từ bao quát đến cụ thể. * **GICS (Global Industry Classification Standard)**: hệ thống phân nhóm này được phát triển một công ty thuộc Morgan Stanley, là công ty MSCI và Standard & Poor (S&P) **Sector (11 sectors) > Industry Group (24 industry group) > Industry (68 Industry) > Sub-Industry (157 sub-industry)** Ở thị trường nhỏ như Việt Nam, chúng ta chỉ nên dùng tới phân chia Sector và Industry Group là đã đủ **Minh hoạ về hệ thống phân chia:** ![](https://hackmd.io/_uploads/BkzxCXdJ6.png) **Các Sector và Industry Group trong hệ thống phân chia:** ![](https://hackmd.io/_uploads/HJ5gJE_1T.png) ### b. Phân nhóm theo độ lớn của công ty: Phân nhóm theo market capitalization (vốn hoá thị trường). Cách phân nhóm này sẽ phân nhóm theo độ lớn của market capitalization của công ty. Ví dụ như top 50, top 100, top 500 công ty có vốn hoá thị trường lớn nhất Cách phân chia nhóm theo kiểu này được gọi là Index Các nhóm trong ví dụ được gọi là Indicies hoặc Indexes Ví dụ của Indexes / Indicies: - Chỉ số VN30 (30 công ty có vốn hoá lớn nhất VN). - Chỉ số S&P500 (500 công ty có vốn hoá lớn nhất U.S). Nhóm này chiếm 75% tổng giá trị thị trường chứng khoán Hoa Kỳ Homework: 1, Tìm hiểu những yêu cầu để được vào những chỉ số như S&P500 hay VN30 2, Tìm hiểu tại sao 2020 Tesla đủ market cap để vào S&P500 nhưng chưa được vào